Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2011

Rừng lộc vừng 400 năm tuổi độc nhất vô nhị


Nếu đem so với mức độ “chảy máu” của các cánh rừng vùng thượng lưu biên viễn, sự tồn tại và sinh sôi trù phú của hai hecta rừng lộc vừng 400 năm tuổi giữa vùng vời đất chật người đông này là một cái lạ, lạ đến khó tin!
Báu vật giữa vùng vời

Nói về không gian địa lý, làng Phú Thọ (xã An Thủy - Lệ  Thủy - Quảng Bình) bé tựa lòng bàn tay với chỉ 236 ha đất mà có tới gần 450 hộ với 1.800 con người sinh sống. Thế nhưng vùng vời (vùng đất ngập nước ven sông) ở ngã ba sông Kiến Giang với hơn 2 ha rừng lộc vừng vẫn là mảnh đất thiêng mà dân làng coi như nơi bất khả xâm phạm.

Rừng lộc vừng độc nhất vô nhị của làng Phú Thọ nằm giữa vùng vời bốn bề ngập nước

Cánh rừng 400 năm tuổi này tồn tại như một chứng nhân lịch sử của một mảnh đất sinh ra nhiều vĩ nhân và chứng kiến nhiều biến động lịch sử từ thời phong kiến đến hai cuộc kháng chiến tìm hình đất nước. Rừng cây có trên nghìn gốc, trong đó độ 300 cây có đường kính trên dưới một mét.

Ông Lê Văn Tiến - Trưởng thôn - tính sơ sơ: nếu (nói dại) đem ngần ấy gốc lộc vừng đi bán cho các đại gia và các nhà chơi cây cảnh thì làng thu về ngót nghét vài chục tỷ. Tính là tính chơi vậy, chứ dân Phú Thọ chẳng ai dám nghĩ đào lộc vừng đem bán.

Trước mắt tôi, rừng lộc vừng cổ thụ với hàng nghìn gốc lớn nhỏ rặt một màu xanh mướt. Rừng lộc vừng sinh ra giữa vùng vời ven sông bốn mùa ngập nước. Mùa này, lộc vừng trổ quả, buông xõa những chuỗi hạt dài đu đưa theo gió xuân, mê mẩn mắt người. Chồi lộc vừng đùn lên từ nước, được nước Kiến Giang nuôi dưỡng, phù sa Kiến Giang đắp bồi nên ngày một tốt tươi, dày dặn trong sự ngưỡng mộ của du khách và sự thèm thuồng của dân chơi cây cảnh.

Lộc vừng già, vỏ xù xì, cành chằng chịt, thế trực tự nhiên không “dao kéo” nên càng gợi sự trầm mặc, hoang sơ đối nghịch hoàn toàn với nhịp sống đô hội đã len lỏi về mảnh làng ven sông này. Xuân đến, rừng lộc vừng xanh mướt chồi non. Thu về, rừng thay lá, nhuốm rặt một màu đỏ úa. Nếu đem so với những cánh rừng vùng thượng nguồn, biên viễn vẫn ngày đêm chảy máu trong tay lâm tặc thì sẽ thấy kỳ lạ khi một khối rừng hàng chục tỷ ngày càng trù phú nằm giữa vùng ven sông chật hẹp ngay cạnh Trung tâm huyện.

Theo nhiều cao niên trong làng, rừng lộc vừng được tiền nhân làng Phú Thọ trồng khoảng 400 năm trước. Khi lập làng đã có lộc vừng. Rừng được trồng che gió, chắn sóng Kiến Giang bảo vệ làng vào mùa nước nổi. Rừng còn là nơi nghỉ chân của người dân sau những giờ làm việc đồng áng, đánh lưới trên sông. Cao niên Phú Thọ nói rằng, làng có thế con rồng bay lên, với đầu rồng nằm ở mũi Viết, thân rồng uốn lượn theo bờ Kiến Giang và vị trí rừng lộc vừng nằm ngay rốn rồng. Chính vì thế, rừng lộc vừng có ý nghĩa tâm linh sâu sắc, gắn với sự còn mất, thịnh suy của làng.
Một góc Kiến Giang, dòng sông đang ngày đêm nuôi dưỡng cánh rừng lộc vừng cổ thụ.

Qua 400 năm tồn tại, rừng lộc vừng Phú Thọ đã trở thành nhân chứng sống của nhiều biến cố lịch sử. Bí thư  Đảng bộ bộ phận Phú Thọ - ông Châu Văn Sơn kể: Theo các văn tự thời trước của làng, trong kháng chiến chống Pháp ở vùng Lệ Thủy có đồn giặc ở An Lạc cai trị dân dữ dằn. Phong trào chống Pháp nổi lên mạnh mẽ, du kích làng thoắt ẩn thoắt hiện trong rừng lộc vừng đánh Pháp nhiều trận táo bạo. Đồn An Lạc thấy vậy bèn xua quân đến, chặt phá nát cánh rừng. Ấy vậy mà những gốc còn lại được phù sa nuôi dưỡng lại tái sinh mãnh liệt, trở lại hùng vĩ như ngày nay. Sự kiện đó còn được rừng lộc vừng lưu giữ trên thân mình, bằng những vết dao chặt chi chít và những gốc cây có dăm ba nhánh đâm lên từ thân cây bị phạt ngang.

Rừng giữ làng, làng giữ rừng

Ngày trước, cây lộc vừng chẳng mấy quý giá. Có chăng, dân ta đem chồi cây lộc vừng mà kẹp với cá sông ăn thì  ngon thấu tủy, chả thế mà dân Quảng Bình có câu “cá lẹp mà kẹp rau mưng” (phương ngữ Bắc Trung Bộ gọi cây lộc vừng là cây mưng). Nhưng độ chục năm trở lại đây, phong trào chơi lộc vừng rộ lên. Dân chơi cây cảnh và các đại gia miền Bắc, miền Trung coi lộc vừng là cây phát tài, phát lộc. Vì thế mà hầu hết các công sở, nhà hàng, sân vườn của người giàu đều có cây lộc vừng. Đã có những gốc lộc vừng cổ thụ thế đẹp được bán giá tiền tỷ. Cây “rau mưng” ngày cũ thành một loại cây cảnh thời thượng, công cuộc giữ rừng cũng vì thế mà gian nan.

Ông Trưởng thôn nhớ lại: mấy năm trước, có một doanh nghiệp lớn muốn xin làng vài cây, hứa sẽ xây cho làng một công trình to để đổi. Nhưng họ chỉ nhận được cái lắc đầu, bởi cây lộc vừng đã trở thành một phần máu thịt của người Phú Thọ. Trong Hương ước làng Phú Thọ có ghi rõ về việc bảo vệ rừng lộc vừng, mấy năm trước huyện Lệ Thủy cũng có hẳn một nghị quyết về bảo vệ rừng lộc vừng. Mọi quyết sách liên quan đến cánh rừng này đều phải được dân làng thông qua, trở thành một “việc làng” đúng nghĩa. 

Làng cắt cử một ban bảo vệ rừng với nòng cốt là Hội Cựu chiến binh, công an viên phụ trách thôn và tổ bảo vệ đồng. Ngày nào ban cũng có người tuần tra luân phiên. Họp làng, ban cán sự thôn không lúc nào quên nhắc nhở người dân gìn giữ báu vật của làng trước sự nhòm ngó ngày một nhiều của những tay săn cây cảnh hám tiền. Hồi đầu năm, một người trong làng đã cấu kết với một nhóm người mua cây cảnh và cuốc xẻng đào trộm một gốc lộc vừng. Đang đào thì bị phát hiện, lập biên bản và người này sau đó bị làng đem ra kiểm điểm trước dân, buộc cam kết không tái phạm mới được về. Ban này chẳng có một xu tiền công bảo vệ rừng, nhưng với họ, được dân làng tín nhiệm giao bảo vệ rừng - cũng là bảo vệ linh hồn làng - đã là một vinh dự. Hơn nữa, giặc Pháp còn không giệt được rừng, chẳng nhẽ con cháu làng Phú Thọ để mất rừng thì mặt mũi đâu mà nhìn về tiên tổ!
Anh Nguyễn Tư Tâm với gốc lộc vừng thế trực tự nhiên được đánh giá cao khi trưng bày trong Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội

Thêm một điều vui cho người Phú Thọ là hiện nay những hạt lộc vừng từ các gốc cổ thụ đã được nhiều người ươm thành cây giống để cung cấp cho các trang trại cây cảnh. Điều đó không chỉ làm giảm  áp lực của công tác giữ rừng, mà còn đưa cây lộc vừng Phú Thọ đến với người đời.

Ở Lệ Thủy có anh Nguyễn Tư Tâm là người tiên phong ươm giống lộc vừng từ hạt lấy ở rừng Phú Thọ. Sau gốc “Lộc vừng thế trực tự nhiên” được Hội Sinh vật cảnh Việt Nam công nhận là tác phẩm xuất sắc, chọn trưng bày trong dịp Đại lễ 1.000 Thăng Long - Hà Nội, anh Tâm đã ươm thành công 30.000 cây lộc vừng và dự định đem nhân giống loài cây hạp nước này ở những vùng vời khác. Biết đâu, vài chục hoặc vài trăm năm nữa, báu vật của làng Phú Thọ sẽ mang lộc đến cho những làng nông - ngư khác trên mảnh đất chiêm trũng nghèo khó địa linh nhân kiệt này.

Lê Hồng Kỹ

Thứ Ba, 11 tháng 1, 2011

Giai thọai về ngôi mộ nhà họ “Ngô Đình” tại huyện Lệ Thủy, tình Quảng Bình


Khỏang cuối thế kỷ 19 đời vua Tự Đức tại làng Đại Phong (tục danh Đợi), huyện Phong Lộc (sau đổi thành huyện Lệ Thủy), tỉnh Quảng Bình, có một nông dân đến ngụ cư trong làng,.vợ chết sớm, chỉ có một cậu con trai nhỏ độ 6 tuổi, hằng ngày làm mướn sinh sống. Ban hội tề ở đình làng này cắt cử ông đến phục dịch ở đình làng mỗi khi có hội họp hoặc tế lể.

Sau đó, trong một cơn bệnh nặng, ông qua đời, được ban hội tề làng cử 4 dân đinh đưa thi hài ống đến an táng lại “Bến Đẻ” một vùng rừng núi ngược dòng sông Kiến Giang cách làng Đại Phong độ 3 cây số ngàn.
Vì mới đến ngụ cư, không có địa vị trong làng, không thân thuộc, lại quá nghèo, nên công việc tổ chức mai táng cũng chỉ đơn sơ và vội vàng.
Ngôi mộ
Khi 4 dân đinh chèo thuyền đưa thi hài ông đến “Bến Đẻ” thì trời đã về chiều, mà nơi này có tiếng nhiều cọp, nên khi dân đinh đang khiêng thi hài ông từ bến đậu thuyền tiến vào núi, bỗng có nhiều tiếng cọp gầm gừ quanh vùng. Dân đinh sợ quá vội hạ xuống cùng nhau hối hả đào một huyệt cạnh đường mòn, nhưng đào chưa xong thì tiếng gầm thét của chúa sơn lâm càng rền vang đâu đó, 4 dân đinh khiếp đảm liền đặt thi hài ông xuống huyệt còn quá cạn rồi lấp đất qua loa, đọan vội vã cùng nhau co giò chạy về bến xuống thuyền chèo về nhà, định bụng sáng hôm sau sẽ trở lại sửa sang lại chu đáo hơn kẻo tội nghiệp người quá cố.
Qua hôm sau, số dân đinh này chèo thuyền trở lại, thì lạ thay, ngôi mộ chiều hôm trước mới lấp qua loa chưa thành nấm, nay đã hóa thành một gò đất tròn trịa do mối tạo lên lớn bằng một căn nhà. Các bậc lão thành trong làng và lân cận nghe tin, lũ lượt đến xem và đều cho là ngôi mộ thiên táng.
Nhưng rồi câu chuyện cũng theo thời gian đi và quên lãng, không ai lưu tâm bàn tán gì đến nữa. Mỗi lần ai đi ngang qua ngôi mộ này cũng không còn để ý đến một gò đất cây cỏ um tùm vì không người viếng thăm săn sóc từ năm này qua năm khác.
 Ngô Đình Khả
Ông cụ qua đời, để lại cậu con trai côi cút mới lên 8, mặt mũi rất khôi ngô dĩnh ngộ, nên được vị cố đạo Thiên Chúa ở xứ đạo Mỹ Phước cạnh làng Đại Phong nhận đem về nuôi cho ăn học. Cậu bé đó là cụ Ngô Đình Khả sau này.
Sau này, cậu bé được cho ra Hanoi học, thi đậu tốt nghiệp trường thông ngôn Đông Pháp, được bổ làm thông phán tại tòa Thống sứ Bắc Kỳ tại Hanoi (trường này giống học viện hành chánh bây giờ).
Theo thông lệ xưa, hễ ai được nhà nước bảo hộ hay Nam triều bộ nhậm chức tước gì thì đều được nhà nước, thông tư về nguyên quán và ban hội tề làng phải tổ  chức lên tỉnh rước sắc bằng về làng, nhằm làm tăng vinh dự cho người được bổ nhậm, thường gọi là “tư án quán”. Tại làng, người nào có phẩm hàm cao thì được làng cấp phần ruộng tốt giao cho thanh nhân canh tác.


Nhưng khi được nhà nước bảo hộ ở Ha nội tư án quán, tòa công sứ và dinh tuần vũ tỉnh Quảng Bình báo cho làng Đại Phong lên tỉnh rước sắc bằng cụ Khả, thì ban hội tề làng này từ khước viện lý do làng Đại Phong không có ai tên là Ngô Đình Khả cả, bởi vì nếu nhận có, tất cụ Ngô Đình Khả sẽ là vị tiên chỉ của làng này, trong khi làng này chỉ có những quan nhỏ cửu, bát phẩm mà thôi.
Do sự khước từ trên, cu Ngô Đình Khả giận làng Đại Phong, sau đó cụ kết hôn với một thiếu nữ trâm anh ở làng Phú Cam gần kinh đô Huế và nhận làm công dân của làng này.
Sau này cụ Ngô Đình Khả chuyển cái ngạch Nam triều rồi lần lượt thăng tiến trên đường họan lộ, đến triều vua Thành Thái ngài thăng chức Thượng thơ bộ Học, Hiệp tá Đại học sĩ.


Dân làng Đại Phong lúc bấy giờ hối tiếc việc không thừa tiếp một công dân anh tài vẻ vang cho làng xóm, nên đã cùng nhau vào Huế xin tạ lỗi và thỉnh cầu được tiếp nhận cụ về làng, được cụ chấp thuận. từ đó, cụ là công dân làng Đại Phong. Cụ đã góp công xây dựng ngôi đình làng Đợi to lớn và ngôi nhà thờ nguy nga hiện nay vẫn còn.
Gái và trai
Cụ Ngô Đình Khả sinh được 2 gái và 6 trai: hai gái là bà cụ Cả Lễ và bà cụ Ấm, 6 trai là cụ nguyên tổng đốc tỉnh Quảng Nam Ngô Đình Khôi, Đức Tổng Giám mục Ngô đình Thục, nguyên tổng thống đệ nhứt VNCH Ngô Đình Diệm, nguyên cố vấn Ngô Đình Nhu, nguyên đại sứ VNCH tại Anh quốc Ngô Đình Luyện và nguyên cố vấn cao nguyên trung nguyên Trung phần Ngô Đình Cẩn.


Năm 1936, cụ bà Ngô Đình Khả cùng các con gồm các ông Ngô Đình Khôi, Đức cha Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn (vắng mặt ông Ngô Đình Luyện có lẽ du học ngọai quốc) về làng Đại Phong thăm làng. Trước khi về làng, cụ bà và các con đến Bến Đẻ viếng mộ cụ cố Tam Đại Tổ.
Chạm long mạch
Năm 1938, ông Paul Ngọc, một nhà kinh doanh khai khẩn đất hoang nguyên quán Đồng Hới được phép khai khẩn đồn điền Ba Canh (tả ngạn sông Kiến Giang song song với vùng núi Bến Đẻ, Bến Trấm), ông này vô tình cho đào một con mương dẫn nước vào đồn điền để canh tác đã chạm phải long mạch của ngôi mộ thiên táng của nhà họ Ngô Đình kể trên và tai nạn đã đưa đến nho nhà họ Ngô là:
-   Thượng thơ bộ Lại của triều đình Huế Ngô Đình Diệm bị hòang đế Bảo Đại cất chức thượng thơ thu hồi tất cả phẩm trật và huy chương vì đã chống đối lệnh hòang đế.
-   Tổng đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi phải bị rắc rối một thời gian vì đã chống đối gây sự bất hòa với viên phó tòan quyền Đông Pháp Nouailletas.
Năm 1944, ông Paul Ngọc được chuyên viên canh nông Nhật bổn yểm trợ khuếch trương đào các con kinh dẩn thủy trong đồn điền Ba Canh của ông, vô tình đã chạm vào long mạch của ngôi mộ kể trên, nên lại một lần nữa gây đại nạn cho nhà họ Ngô là:
-    Ngô Đình Khôi và con trai đầu lòng là Ngô Đình Huân bị chính quyền VM bắt và thủ tiêu sau cuộc cách mạng mùa thu 1945.
-    Ngô Đình Diệm cũng bị chính quyền VM bắt giam nhưng đã trốn thóat bôn đào ra ngọai quốc.
Hàn lại long mạch
Nhưng nhờ thời gian Đồng minh đánh Nhật và VN chống Pháp, mọi công tác tại đồn điền này đều phải đình chỉ, các kinh đào dẫn thủy nhờ thời gian qua đã lấp lại hết. Long mạch đã được hàn gắn lại nên vận số nhà họ Ngô lại phục hưng bộc phát hơn trước:
-   Tháng 7-1954, ông Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh rồi trở thành vị tổng thống sáng lập nền đệ nhất cộng hòa VN.
-   Cùng lúc, bào đệ là ông Ngô Đình Nhu nắm giữ chức cố vấn nòng cốt của chế độ, ông Ngô Đình Luyện giữ chức đại sứ VNCH tại Anh Quốc, ông Ngô Đình Cẩn trở nên vị lãnh chúa của miền Trung. Còn Đức Cha Ngô Đình Thục lên chức Tổng Giám Mục và có thể sẽ là vị Hồng Y đầu tiên của Công Giáo tại VNCH.
Lại chạm Long Mạch
Nhưng vào khỏang năm 1960-1962, chế độ miền Bắc bắt đầu đặt nặng công cuộc yểm trợ tận lực cho Mặt trận Giải Phóng miền Nam được Trung Cộng viện trợ xây đắp xa lộ từ Bắc vào Đồng Hới qua Hậu Hùng, Mỹ Đức đến vùng đồn diền Ba Canh tiến sát vĩ tuyến 17 và vùng Ba Canh trở thành căn cứ sản xuất và bổ túc vủ khí để chuyển vào Nam. Họ đào những đường hầm sâu để đặt cơ xưởng dưới lòng đất hầu tránh oanh kích đã làm đứt hẳn long mạch của ngôi mộ thiên táng nhà họ Ngô tại Bến Đẻ. Sự kiện này đưa đến đại nạn cho tòan thể gia đình họ Ngô Đình vào mùa đông năm 1963 như chúng ta đã rõ.Âu cũng là do thiên định cho sự kết phát của ngôi mộ kể trên phải chịu trong giai đọan đại biến này thôi. Rồi nếu hồng phúc của nhà họ Ngô Đình trời còn dành cho phần trường cửu hơn, thì biết đâu sau này lại có những sự kiện đưa đến hàn gắn lại long mạch để lớp hậu duệ nhà họ Ngô Đình tái phục hưng vĩ đại hơn nữa.
Về phương diện phong thủy, phải chăng ngôi mộ kể trên đã chung tú bới non sông hùng vĩ của huyện Lệ Thủy từ phía Nam có 3 hòn núi An Mã dẫn về Bến Trấm, Bến Đẻ và phía Tây có núi Đầu Mâu chung khí về biển Hạc Hải ờ phía Đông Bắc trải long mạch dựa theo sông Kiến Giang ngược lên Tróc Vực quy tụ vào ngôi mộ này kết phát đến tột đỉnh, Đế, Bá, Công, Hầu chăng ?
Kẻ viết giai thọai này chỉ là kẻ hậu sinh, nhờ được sinh sống ở quê hương từ thuở thiếu thời, được các bậc tiền bối truyền thọai lại mà thôi. Nay xin viết lại để mong chư hải nội tiền bối nhất là liệt quý vị cao niên đồng hương hiện ờ Miền Nam phủ chính lại cho, hầu xây dựng đích thực một sử liệu không những chỉ ở lãnh vực địa lý mà cả cho danh nhân chí của Việt Nam nữa ./.


Tây Đô tháng 10-1973.


(Tạp chí Khoa Học Huyền Bí số 1B(75) ngày 20 tháng 1-1975)

Cụ Võ Khắc Triển - Người con ưu tú của Làng Mỷ Lộc - An Thủy


Võ Khắc Triển
Làng Mỹ Lộc, thi đỗ 4 khoa tú tài, 2 khoa cử nhân và 1 khoa tiến sĩ – khoa thi hội cuối cùng của triều Nguyễn 1919. Cụ làm quan ở nhiều nơi, tri huyện ở Thạch Hà - Hà Tĩnh, tri phủ An Nhơn - Bình Định, tri huyện Đồng Xuân - Phú Yên, án sát ở Quảng Trị… ở đâu cụ cũng có hành động thương xót và bênh vực người nghèo. Có lần lính bắt được người nghi là cộng sản đem trình, cụ bảo: Đồ ấy làm được trò trống chi, đuổi đi kẻo bẩn công đường. Một lần khác bắt được một thanh niên có nghi vấn, khi hỏi cung thẩm vấn cụ gợi ý để trả lời câu hỏi như là vô tội rồi cho đi… Do vậy chính phủ Nam triều không ưa và ép cụ về hưu sớm khi mới 55 tuổi.
Đầu năm 1947, một lần cụ Đốc Oanh (Lê Tú Oanh) ở Đại Phong sang chơi tài bàn, giữa chừng cụ Đốc Oanh hỏi: Tây đổ bộ lên Huế rồi! Anh tính sao? Cụ án Mỹ Lộc bình thản trả lời: “Tuế hàn nhiên hậu tri tùng bách” (khi mưa rét bão bùng ắt sẽ biết sức mạnh, sự chịu đựng của cây tùng, cây bách). Cụ ví mình như cây tùng bách sẽ vững vàng trước sóng gió. Năm 1948 viên huyện trưởng huyện Lệ Thủy về bẩm cụ: Thưa cụ, Đức Bảo Đại có ý vời cụ ra làm Tống trấn Trung phần, nếu cụ đồng ý cấp trên sẽ cho 1 tiểu đoàn yểm trợ cụ về Đồng Hới rồi đưa cả gia đình lên máy bay vào Huế. Cụ án ra vẻ lãng tai, 2, 3 lần hỏi lại: Ngài nói chi tui nghe không rõ? Viên huyện trưởng thấy không thể lay chuyển “ông già Việt Minh” ấy theo mình, đã rút lui có trật tự. Cuối năm 1948, khi tiếng súng xâm lăng bắn vào gần nhà, cụ đưa gia đình tản cư lên làng Quy Trình ven Trường Sơn chịu bao cảnh thiếu thốn.
Năm 1949 trước khi hồi cư về vùng địch hậu (sau hói Tuy) cụ đi bộ từ làng Quy Trình (xã Phú Thủy - Lệ Thủy nơi cụ tản cư) ra xã Vạn Ninh (Quảng Ninh) xa hơn 15km để trình xin Ủy ban tỉnh, hứa một lòng sắt đinh, nói một lời chung thủy trước sau nguyện làm theo lời của cụ Hồ, ý của Đảng, lòng dân. Thật vậy, 8 người con trai gái của cụ như các anh chị Vui, Vẻ, Vang, Sang, Giàu, Việt, Mai, Hồng đều tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ lập được chiến công.



Ông Nghè Võ Khắc Triển (1883 -1966) là vị tiến sĩ cuối cùng thời nhà Nguyễn. Ông người làng Mỹ Lộc, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Năm 17 tuổi, chàng trai trẻ này lên núi Đâu Mâu, xem người xưa lập chiến khu chống Pháp, đã nhìn thấy tình yêu nước, yêu dân tộc cao cả như núi, anh tự đặt cho mình tên “Thiếu Đâu” (Núi Đâu Mâu non trẻ). Rồi chàng trai trở về, mang trong lòng lời hứa lớn lao đó, anh quyết chí học tập, lập thân.

Năm Kỷ Mùi 1919, khoa thi Đình năm Khải Định thứ tư, ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân (bia Tiến sĩ hiện còn tại Văn Miếu Huế). Con đường khoa hoạn mở lối, giúp ông thực hiện ý nguyện mình: hỗ trợ cho cộng đồng sống hòa thuận (trong cách xử án), cứu nguy cho các chiến sĩ cách mạng lỡ sa vào tay giặc (năm 1929 ông giải thoát cho Nguyễn Tất Thành ra khỏi nhà giam An Nhơn - Bình Định), cứu đói người nghèo (1945 ông đã ủng hộ cho Đoàn Thanh niên Cách mạng đấu tranh với huyện trưởng cho mở kho thóc huyện Lệ Thủy cứu đói cho dân).

Ông đã kinh qua nhiều chức vụ, nhưng không được lòng cấp trên nên được cho nghỉ hưu sớm năm ông 54 tuổi. Sau đó, vua Bảo Đại cho người mời ông vào chức Tổng Trấn Trung phần, ông kiên quyết từ chối. Sau chiến thắng Điện Biên, khi ông đã 73 tuổi, ông nhận lời mời của Chính phủ cách mạng, làm công tác nghiên cứu dịch thuật và hiệu đính các tác phẩm Hán Nôm tại Viện Văn học, rồi Viện Triết học tại Hà Nội. Ông lao động tích cực, cho đến một ngày ông mất đột ngột trong khi còn tại chức, trong nỗi tiếc thương của bao người (27/6/1966 nhằm 9/5 Âm lịch).

DANH NHÂN LỆ THỦY


Lệ Thủy là mảnh đất địa đầu sóng gió của Quảng Bình. Quảng Bình địa linh nhân kiệt. Giở lại lịch sử mà xem bóng dáng cha ông xưa trên mảnh đất Lệ Thủy thân yêu .

* Đỗ tiến sĩ gồm có:
1. Hoàng Hối Khanh: Tiền hiền khai khẩn, ông thủy tổ làng Thượng Phong (Lệ Thủy) đỗ tiến sĩ năm 1384.
2. Phạm Đại Kháng: Người Lệ Thủy (không rõ làng) đậu tiến sĩ khoa Nhâm Thìn đời Mạc (1532), làm quan đến chức Giám sát ngự sử.
3. Dương Văn An: Người làng Tuy Lộc, tiến sĩ khoa Đinh Tị 1547, làm quan đến Tả thị lang bộ Lại đời Mạc, tác giả cuốn “Ô châu cận lục” nổi tiếng.
4. Lê Đa Năng, người An Xá, đỗ tiến sĩ năm Ất Sửu 1565.
5. Nguyễn Cửu Trường: Người làng Hoàng Công, Lệ Thủy, đậu Đệ nhị giáp tiến sĩ năm 1838 Minh Mạng thứ 8; làm quan Bố chánh Hà Nội, sau làm quan Tuần phủ Biên Hòa.
6. Vũ Xuân Hán: Người làng Hòa Luật, Tiến sĩ ân khoa Mậu Thân 1848, quan Thị lang bộ Hộ.
7. Lê Đăng Hành: Người làng Phù Chánh, tiến sĩ khoa Mậu Thân 1848, làm quan Bố chánh xứ.
8. Lê Đại: Người làng Phan Xá, tiến sĩ khoa Đinh Mão 1867, làm quan Bố chánh.
9. Võ Khắc Triển: Người làng Mỹ Lộc, tiến sĩ khoa cuối cùng triều Nguyễn 1919, làm quan Án sát, thăng Tham tri về hưu.
* Đỗ phó bảng:
1. Lê Lượng: Người làng Thạch Bàn, phó bảng khoa Ất Sửu 1865 – Bố chánh.
2. Nguyễn Thuần (tức Nguyễn Tịnh): Người làng Tuy Lộc, đỗ cử nhân năm Tân Dậu 1861; phó bảng khoa Ất Sửu 1865 – Lang trung.
3. Nguyễn Lê Kháng: Thạch Xá, đỗ phó bảng khoa Kỷ Mão 1879 – Ngự sử.
4. Trần Khánh Hội: Đại Phong, đỗ phó bảng khoa Quý Dậu – Thị lang.
5. Nguyễn Đăng Cư: Phù Chánh, đỗ phó bảng năm 1919 – Khải Định thứ 4.
* Quan Thượng thư, tổng đốc, tuần phủ:
1. Cử nhân Nguyễn Đăng Giai: Phù Chánh - Thượng thư hiệp biện đại học sĩ.
2. Cử nhân Võ Trọng Bình: Mỹ Lộc - Thượng thư Bộ Lại, Cơ mật viện đại thần.
3. Cử nhân Hoàng Quảng Phu (tức Hoàng Quảng Côn): Cổ Liễu - Thượng thư.
4. Cử nhân Hoàng Đại Bỉnh: Xuân Lai - Thượng thư.
5. Châu Đình Kế: Phú Thọ, An Thủy.Tập ấm mà lên, làm đến Thượng thư Bộ Công, nhiều tài năng xuất chúng
6. Võ Xuân Cẩn: Hòa Luật, tập ấm mà lên. Hàn lâm viện, Hiệp biện đại học sĩ, khi mất thăng Thượng thư Bộ Lễ.
7. Nguyễn Đăng Tuân: Phù Chánh – quan Tham tri, khi về hưu thăng Thượng thư Bộ Lễ, là thầy dạy học vua Thiệu Trị.
8. Nguyễn Văn Nhị: Lộc An – Tổng đốc Hải Dương thời Gia Long nổi tiếng liêm, cần, từ huệ (Phật sống).
9. Ngô Đình Khả: Đại Phong – Thượng thư, quan Phụ chánh đại thần, dám chống lại Pháp khi đày vua Thành Thái.
10. Cử nhân Lê Văn Hy: Lộc An, quan Tư nghiệp Quốc tử giám có công dạy hoàng tử Hồng Nhậm (sau này là vua Tự Đức) khảng khái không chịu bó buộc, bị giáng một chức khi về hưu. Người nổi tiếng hay thơ. Tương truyền khi hoàng tử ham chơi về học trễ, cụ Hy đóng cửa đuổi về. Sau đó cụ Hy gặp bà Từ Dũ mẹ Tự Đức. Bà nói, con hư tại mẹ. Đáng ra tôi xin lỗi khanh mới phải.
11. Lê Văn Duyên (Nguyên): Lộc An – Cử nhân (con cả Lê Văn Hy) làm quan Tuần vũ, văn võ kiêm toàn, có công dẹp giặc Cờ đen, có để lại tập thơ Hồng Hiên thi tập.
12. Hoàng Công Đán: Quê Lệ Thủy (không rõ làng) là người có chí lớn, hai lần đỗ Hương – giải nên được sung vào học trường Quốc tử giám. Năm 1545 ông được trao chức giảng dụ, tri huyện Tư Vinh, rồi tri huyện An Dũng. Ông là người trung nghĩa, làm việc cần cù.
13. Đặng Đại Lộ: Người Lệ Thủy (không rõ làng) con của ông Đặng Đại Lược. Độ là người học rộng, thi đậu hương tiến, làm quan đồng triều với cha. Khi có quan hầu cận vua ra công cán làm điều phi pháp ông bắt giết rồi tự đến kinh thành tạ tội nhưng vua hạ chiếu tha. Ít lâu sau được bổ làm Tuần phủ Gia Định.
                                        Theo Lệ Thủy quê tôi của Lê Văn Khuyên

Làng Xả Lệ Thủy trước 1945


(Cầu Ngò - Tân Thủy )

Tổng Thủy Liên

  • Đặng Lộc xã
  • Phò Chánh xã (Cung)
  • Thủy Liên thôn (Quán Sen)
  • Hòa Luật Đông (Hòa Đông)
  • Thủy Liên Nam (Quán Trảy)
  • Hòa Luật Bắc (Hòa Bắc)
  • Trung Luật Thôn (Cây Cúp)
  • Thử Luật Tây
  • Hòa Luật Nam (Ngoại Hải)
  • Liêm Luật xã
  • Trung Luật xã
  • Thương Luật xã
  • Thủy Liên Đông (Quán Cát)
  • Phò Thiết ấp (Hủ Thiết)
  • Thủy Liên Hạ (Quán Bụt)
Tổng Mỹ Trạch

  • Cổ Liễu xã (Tréo)
  • Liêm Thiện xã (Làng Liêm)
  • Mỹ Thổ xã (Làng Ngói)
  • Luật Sơn ấp
  • Quy Hậu xã
  • Dương Xá xã (Làng Dương)
  • Mỹ Trạch Thượng
  • Mỹ Trạch Hạ
  • Tâm Duyệt xã
  • Uẩn Áo xã (Nha Ngo)
  • Thuận Trạch phường (Trạm)
  • Tân Hậu phường
  • Mỹ Son ấp (Thượng Lâm)
  • Dương Xuân xã (Ba Canh)
  • Tân Mỹ phường (Mỹ Lê)
  • Tiểu Giang phường (Phường Tiểu)
Tổng Đại Phong Lộc

  • Đại Phong Lộc xã (đợi)
  • Mỹ Phước Thôn (Nhà Cồn)
  • Tuy Lộc xã (Tuy)
  • An Lạc phường
  • An Xá xã (Thá)
  • An Xá Hạ
Tổng Thạch Xá

  • Tân Việt phường
  • Binh Phú ấp
Tổng Thượng Phong Lộc

  • Xuân Hồi xã (Hồi)
  • Phú Thọ xã (Nhà Ngô)
  • Thượng Phong Lộc xã (Làng Tiểu)
Tổng Xuân Lai

  • Xuân Lai xã
  • Xuân Bồ xã
  • Hoàng Giang xã (Nhà Vàng)
  • Phan Xá xã (Nhà Phan)
  • Quảng Cư xã (Làng Chềng)
  • Lệ Xã xã (Kẻ Lê)
  • Thái Xá xã (Nhà Cai)
  • Thạch Bàn Thượng (Chợ Thẹc)
  • Mai Xá Thượng
  • Mai Xá Hạ (Nhà Mòi)
  • Châu Xả Xã (Kẻ Châu)
  • Phú Bình Phong
Tổng Mỹ Lộc